Phân tích 20 câu đầu bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu hay nhất có chọn lọc

Đã kiểm duyệt nội dung

Đề bài: Phân tích 20 câu đầu bài thơ Việt Bắc

phan tich 20 cau dau bai tho viet bac

Bài văn mẫu và Dàn ý phân tích 20 câu đầu bài Việt Bắc

Mẹo Phương pháp phân tích bài thơ, đoạn thơ đạt điểm cao

I. Dàn ý Phân tích 20 câu đầu bài thơ Việt Bắc ngắn gọn chi tiết:

1. Mở bài:- Giới thiệu về bài thơ “Việt Bắc” và tác giả Tố Hữu.- Giới thiệu về hai mươi câu thơ đầu bài thơ “Việt Bắc”.2. Thân bài:a) Bốn câu thơ đầu:– Hai câu hỏi tu từ “Mình về mình có nhớ ta”, “Mình về mình có nhớ không”: + Xưng – hô: “Mình” – “ta” thể hiện sự gần gũi, gắn bó thân thiết.+ Điệp từ “có nhớ” thể hiện nỗi nhạy cảm với hoàn cảnh đổi thay, sợ bị quên lãng của người ở lại. Họ đã cất lên tiếng lòng băn khoăn, nghi ngại về tình cảm của người đi, vừa gợi nhắc những kỉ niệm gắn bó, những cội nguồn nghĩa tình.- Thời gian gắn bó “Mười lăm năm”:+ Đây là chi tiết thực nói về khoảng thời gian từ 1940 – 1954, từ khi bắt đầu có Cách mạng đến khi quân Pháp bị đánh đuổi, nước ta hoàn toàn độc lập. + Thời gian mang tính biểu tượng – thời gian để bồi đắp biết bao tình cảm đong đầy giữa đồng bào và cán bộ -> Biểu trưng cho sự trọn vẹn của ân tình, nghĩa tình kháng chiến.+ “Thiết tha”, “mặn nồng”: Tình nghĩa gắn bó giữa đồng bào và người lính. – Không gian gắn bó “cây”, “núi”, “sông”, “nguồn”:+ Không gian rộng lớn, quen thuộc mà người đi từng gắn bó, đong đầy kỉ niệm. + Vận dụng câu tục ngữ “uống nước nhớ nguồn” dặn dò: Việt Bắc là cội nguồn của cách mạng, là căn cứ đầu não của cuộc kháng chiến. b) Bốn câu thơ tiếp theo:– Đại từ phiếm chỉ “ai” thường xuất hiện trong ca dao yêu thương tình nghĩa/ ca dao than thân khiến lời thơ nôn nao xúc cảm.- “Cồn”: không gian tiễn đưa quen thuộc trong văn chương cổ điển.=> Sự kết hợp hai yếu tố gợi tâm trạng bâng khuâng, man mác lòng người, khiến cuộc chia tay trở nên bịn rịn, nhiều luyến lưu.- Tâm trạng của người ra đi “Bâng khuâng trong dạ bồn chồn bước đi”:+ Từ láy chỉ trạng thái cảm xúc “bâng khuâng”, “bồn chồn”: nỗi niềm luyến tiếc, day dứt, vui buồn lẫn lộn, nôn nao trong lòng khiến cho bước chân đi cũng ngập ngừng, bịn rịn không muốn rời. + Sự nhất quán giữa tâm trạng bên trong và hành động bên ngoài. Bước chân ngập ngừng như có sự níu kéo bên trong. – Chân dung người đưa tiễn “Áo chàm đưa buổi phân li”:+ Nghệ thuật hoán dụ: Dùng “áo chàm” là trang phục đặc trưng của người dân vùng núi Tây Bắc để chỉ con người ở đó.+ Nghệ thuật ẩn dụ: “Áo chàm” là màu áo thể hiện sự bình dị, nghèo khó của con người Việt Bắc nhưng lại có tấm lòng thủy chung, son sắt với kháng chiến. – Nỗi niềm kẻ ở, người đi: “Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”.+ Nhịp thơ 3/5 bất thường, hiếm thấy trong thơ lục bát như để diễn tả tâm trạng bất thường, nghẹn ngào cảm xúc của cả người đi và người ở lại.+ “Cầm tay”: hành động thay cho những lời yêu thương khó nói ra.+ “biết nói gì hôm nay”: không biết nói gì vì có quá nhiều điều muốn nói -> Ngôn ngữ dường như trở nên bất lực, thừa thãi trước cảm xúc đang dâng trào vô tận.+ Dấu ba chấm đặt ở cuối câu như nốt lặng trong một khuông nhạc. Ở đó, tình cảm ngân dài sâu lắng. Nốt lặng, phút ngừng của ngôn từ tựa như sự yên tĩnh giữa hai trận gió của một cơn bão để sau đó cảm xúc như cơn bão lòng nổi lên dữ dội hơn.c) Mười hai câu cuối:– Thời kì đầu kháng chiến đầy gian khổ:+ Thời tiết mưa nhiều, bão lũ gây khó khăn cho công cuộc cách mạng.+ Hoàn cảnh thiếu thốn “miếng cơm chấm muối” nhưng người lính vẫn luôn nhớ đến nhiệm vụ của mình, nhớ đến “mối thù nặng vai” của dân tộc. – Tình cảm giữa người lính – nhân dân đầy gắn bó:+ Nỗi buồn, nỗi trống vắng của người ở lại, khi không cần phải chăm sóc người lính nữa thì “trám bùi để rụng, măng mai để già”.+ Con người Việt Bắc tuy nghèo khó nhưng “đậm đà lòng son”, vẫn luôn giữ vững tấm lòng son sắt, thủy chung với Cách mạng. – Lời nhắc nhở Việt Bắc chính là thủ đô kháng chiến, là cái nôi của Cách mạng. 3. Kết bài:– Khái quát lại về nội dung và nghệ thuật 20 câu thơ đầu Việt Bắc.

II. Top Bài văn mẫu Phân tích 20 câu đầu bài thơ Việt Bắc hay nhất của học sinh giỏi

Bài văn mẫu 1: Cảm nhận 20 câu đầu bài thơ Việt Bắc siêu hay đạt điểm cao

Nhà thơ Tố Hữu luôn được ca ngợi là nhà thơ của Cách mạng. Thật vậy, những tác phẩm của ông đa số đều nhằm ca ngợi Cách mạng, tiếp thêm sức mạnh cho người chiến sĩ. Đỉnh cao sáng tác của ông phải kể đến “Việt Bắc”. Bài thơ đã khái quát lên chín năm kháng chiến chống Pháp gian khổ của đất nước. Trong đó, hai mươi câu thơ đầu của bài là đoạn thơ rất đặc sắc, thể hiện đầy đủ những đặc điểm thơ của Tố Hữu.

“Việt Bắc” được viết khi hiệp định Giơ-ne-vơ được kí kết, miền Bắc hoàn toàn độc lập. Trung ương, Chính phủ chuyển từ thủ đô gió ngàn Việt Bắc về lại Hà Nội. Trong khoảnh khắc chia li giữa những người cán bộ với nhân dân miền núi, nỗi xúc động, lưu luyến dâng trào. Đây cũng là cảm xúc chính trong đoạn thơ đầu này.

“Mình về mình có nhớ ta

Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.

Mình về mình có nhớ không

Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn ?”

Trong đoạn thơ này, tác giả đã sử dụng các xưng hô “Mình” – “ta”, thể hiện sự gắn bó, thân thiết nghĩa tình. “Mình” và “ta” đại diện cho người chiến sĩ miền xuôi và người dân miền ngược. Câu hỏi tu từ “Mình về mình có nhớ ta”, “Mình về mình có nhớ không” gợi cho ta nhớ đến những câu ca dao quen thuộc: “Mình về có nhớ ta chăng/Ta về ta nhớ hàm răng mình cười” hay “Mình về ta chẳng cho về/Ta nắm vạt áo, ta đề câu thơ”. Chính âm hưởng ca dao quen thuộc cùng thể thơ lục bát truyền thống của dân tộc khiến bài thơ trở nên gần gũi, dễ nhớ, dễ thuộc. Đó như lời tâm tình mộc mạc giữa những người bạn, người thân trong gia đình trong giờ phút chia li sau khoảng “mười lăm năm” gắn bó. Để nói chính xác thì khoảng thời gian này được tính từ năm 1940, khi Việt Minh mới được thành lập, còn non trẻ đến năm 1954, khi quân Pháp hoàn toàn bị đánh đuổi ra khỏi bờ cõi nước ta. Trong “mười lăm năm” này, người cán bộ chiến sĩ đã gắn bó với nhân dân nơi đây, trở thành “con của vạn nhà”, “anh của vạn đầu em nhỏ”. Thế nên, tình cảm giữa họ đã sớm gắn bó khăng khít, “thiết tha”, “mặn nồng” như người cùng gia đình. Không những thế, họ còn gắn bó với không gian núi rừng, trở thành người con của đại ngàn Tây Bắc. Câu thơ “nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn” đã mượn ý câu tục ngữ “uống nước nhớ nguồn” nhằm nhắc nhở người ra đi không được quên Việt Bắc – nơi đong đầy kỉ niệm của một thời gian khó, nơi cách mạng được sinh ra.

“Tiếng ai tha thiết bên cồn

Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi

Áo chàm đưa buổi phân li

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…”

Đại từ phiếm chỉ “ai” xuất hiện trong những bài ca dao than thân khiến lời thơ trở nên đầy nôn nao, xúc cảm. Tiếng “tha thiết” xuất hiện bên “cồn” – không gian tiễn đưa quen thuộc trong văn chương cổ đã gợi tâm trạng bâng khuâng, man mác lòng người. Khiến buổi chia tay trở nên bịn tịn, nhiều luyến lưu hơn. Chính vì thế, người ra đi mới có tâm trạng “bâng khuâng”, “bồn chồn”, ngập ngừng không nỡ rời xa cảnh và người Tây Bắc. Chân dung con người Việt Bắc cũng hiện lên thông qua biện pháp tu từ hoán dụ “áo chàm”. Đây là màu áo mộc mạc, bình dị người miền núi hay sử dụng. Chính sự giản đơn có phần nghèo khó này càng khiến cho người ra đi bịn rịn, nhớ nhung. Khi mà cảm xúc dâng trào vô tận thì ngôn ngữ dường như trở nên bất lực, thừa thãi. Họ chỉ có thể “Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”. Dấu ba chấm đặt ở cuối câu cũng như một nốt lặng thể hiện sự yên tĩnh của khung cảnh nhưng cũng để tiếp nối những xúc cảm quá lớn lao không thể biểu đạt bằng lời nói.

Mười hai câu cuối cùng là lời người ở lại nhắc nhở người ra đi đừng quên những kỉ niệm về ngày đầu kháng chiến, đừng quên cái nôi của Cách mạng:

“Mình đi, có nhớ những ngày

Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù

Mình đi, mình có nhớ mình

Đọc thêm:
Viết đoạn văn 200 chữ về sự cống hiến

Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa ?”

Thời kì đầu kháng chiến có quá nhiều gian khổ, thiếu thốn về vật chất. Đó là thời tiết khắc nghiệt “mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù”, là bữa cơm không đủ no “miếng cơm chấm muối”. Thế nhưng, người chiến sĩ cùng nhân dân vẫn luôn không quên “mối thù nặng vai” của dân tộc. Trong lòng mỗi người đều nung nấu ý chí, quyết tâm giành lại được độc lập cho dân tộc. Chính vì vậy, người dân đã dồn hết tâm sức để nuôi quân, giấu quân. Họ chăm lo cho cán bộ chiến sĩ như những đứa con trong nhà. Để đến khi, sự ra đi của những chiến sĩ để lại nỗi buồn, nỗi trống vắng cho người ở lại. Vậy nên, người ở lại chỉ mong muốn người ra đi đừng quên những năm tháng tuy khốn khó nhưng đầy ấm áp, thân thiết, gắn bó nghĩa tình. Không chỉ thế, đoạn thơ còn nhắc nhớ về mái đình Hồng Thái và cây đa Tân Trào – hai địa danh nổi tiếng, là nhân chứng cho những cột mốc quan trọng trong cuộc chiến. Từ đó khẳng định Việt Bắc chính là cái nôi, là nơi bắt nguồn và nuôi dưỡng cách mạng.

Hai mươi câu thơ đầu của “Việt Bắc” đã thể hiện khung cảnh chia tay đầy lưu luyến, bịn rịn giữa các cán bộ cách mạng và người dân vùng núi. Tố Hữu đã chọn thể thơ lục bát của dân tộc, cách xưng hô gần gũi, nhịp thơ chậm như đang tâm sự, giãi bày và những hình ảnh thân thuộc, gần gũi để tái hiện những năm tháng cùng sống, cùng chiến đấu với nhân dân. Tất cả những điều đó đều cho thấy tính dân tộc rất cao trong tác phẩm của Tố Hữu.

– – – – – – – – – – – – – – – – – – – HẾT – – – – – – – – – – – – – – – – – – –

Phân tích 20 câu đầu bài thơ Việt Bắc là đề văn khái quát cho em thấy được khung cảnh buổi chia li của người cán bộ chiến sĩ miền xuôi và nhân dân miền núi. Để hiểu rõ thêm về nội dung của bài thơ này, em có thể tìm đọc thêm các bài khác trên Taimienphi.vn như: Phân tích khổ 3 bài thơ Việt Bắc; Cảm nhận khổ thơ thứ 7 trong bài Việt Bắc; Bức tranh tứ bình trong bài Việt Bắc, Tố Hữu.

Bài mẫu số 2: Phân tích 20 câu đầu bài thơ Việt Bắc siêu hay

Bốn câu đầu là lời Việt Bắc tỏ bày với người cán bộ chiến sĩ khi chia tay:

“Mình về mình có nhớ taMười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng …”

Điệp từ “nhớ” luyến láy trong cấu trúc câu hỏi tu từ đồng dạng, tràn đầy thương nhớ. Cách xưng hô “mình – ta” tác giả đã sử dụng từ ngữ diễn tả trong tình yêu lứa đôi… mộc mạc, thân gần,… “Mười lăm năm” “thiết tha mặn nồng” được Tố Hữu thể hiện bằng một thể thơ giàu tính dân tộc. Thể lục bát, cách kết cấu đối đáp, sử dụng đại từ nhân xưng “Mình”, “Ta” quen thuộc trong thơ ca dân gian, có khả năng “biểu hiện một cách thuận tiện, phù hợp với điệu hồn chung của cộng đồng người Việt”. Tất cả những yếu tố đó đã diễn tả thật xúc động tình cảm quyến luyến thiết tha trong một cuộc chia tay đặc biệt: chưa xa đã nhớ. Âm điệu ngọt ngào, giọng thơ nồng ấm, tình cảm do vậy dạt dào thiết tha. Việt Bắc hỏi về:

“Mình về mình có nhớ khôngNhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?”

Câu hỏi chất chứa tình cảm lưu luyến, bao hàm lời dặn dò kín đáo: đừng quên cội nguồn Việt Bắc – cội nguồn của cách mạng. Và cũng chứng tỏ rằng người Việt Bắc sống gần gũi với thiên nhiên, với những gì rất cụ thể.

Bốn câu tiếp theo là nỗi lòng của người về:

“Tiếng ai tha thiết bên cồnBâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước điÁo chàm đưa buổi phân liCầm tay nhau biết nói gì hôm nay”

“Bâng khuâng, bồn chồn” là hai từ láy gợi cảm, diễn tả trạng thái tâm lí tình cảm buồn vui, luyến tiếc, nhớ thương, chờ mong… lẫn lộn cùng một lúc. Mười lăm năm Việt Bắc cưu mang người cán bộ chiến sĩ, mười lăm năm gian khổ có nhau, mười lăm năm đầy những kỉ niệm chiến đấu, giờ phải chia tay rời xa để làm nhiệm vụ mới về tiếp quản tại thủ đô Hà, biết mang theo điều gì, biết lưu lại hình ảnh nào, tâm trạng của người về do vậy không tránh khỏi là nỗi niềm bâng khuâng khó tả.

“Áo chàm đưa buổi phân li” là một ẩn dụ, màu áo chàm, màu áo xanh đen đặc trưng của người miền núi Việt Bắc – tác giả hướng nỗi nhớ Việt Bắc qua hình ảnh cụ thể “áo chàm”, chiếc áo, màu áo bình dị, đơn sơ, mộc mạc của vùng quê nghèo thượng du đồi núi nhưng sâu nặng nghĩa tình, đã góp phần không nhỏ vào sự nghiệp kháng chiến cứu nước.

phan tich 20 cau tho dau trong bai viet bac

Bài văn mẫu Phân tích 20 câu thơ đầu bài thơ Việt Bắc hay nhất

Câu thơ “Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…” đầy tính chất biểu cảm – biết nói gì không phải không có điều để giải bày mà chính vì có quá nhiều điều muốn nói không biết phải nói điều gì. Ba dấu chấm lửng đặt cuối câu là một dấu lặng trên khuôn nhạc để tình cảm ngân dài, sâu lắng…

Mười hai câu lục bát còn lại là lời của người ở, cấu tạo bằng sáu câu hỏi như khơi sâu vào kỷ niệm. Mỗi câu hỏi đều gợi lại những gì tiêu biểu nhất của Việt Bắc qua những hình ảnh chọn lọc gợi cảm: Mưa nguồn, suối lũ, mây mù, Những hình ảnh chọn lọc vừa chân thực vừa thơ mộng: “Mình đi, có nhớ những ngày …. Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa” Điệp từ “nhớ” lập đi lập lại nhiều sắc thái ý nghĩa: nhớ là nỗi nhớ, ghi nhớ, nhắc nhở. Hàng loạt những câu hỏi tu từ bày tỏ tình cảm tha thiết đậm đà của Việt Bắc.

Tình cảm lưu luyến của người đưa tiễn, gửi đi nỗi nhớ mong, gài lại niềm thương nhớ theo cách “Thuyền về có nhớ bến chăng- Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền” Việt Bắc nhắc người cán bộ chiến sĩ đừng quên những năm tháng gian lao vất vả, hoạt động chiến đấu trong điều kiện trang bị tiếp tế còn thô sơ, thiếu thốn.

“Mình về có nhớ chiến khuMiếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai?”

“Miếng cơm chấm muối” là chi tiết thực, phản ánh cuộc sống kháng chiến gian khổ. Và cách nói “mối thù nặng vai” nhằm cụ thể hóa nhiệm vụ chống thực dân cướp nước, đè nặng vai dân tộc ta. Cảm xúc thương nhớ xa vắng thả vào không gian rừng núi, gợi nỗi niềm dào dạt:

“Mình về, rừng núi nhớ aiTrám bùi để rụng, măng mai để già”

Tình cảm của ngời ở đối với ngời đi xem ra được thể hiện sâu kín hơn cả trong câu thơ này, chỉ 14 chữ mà chứa đựng biết bao quyến luyến nhớ thương: Người đi rồi cả một miền rừng trở nên hoang vắng, trám không người nhặt, măng không ai hái, cả núi rừng cũng mong nhớ đến thẫn thờ. Nỗi bùi ngùi nhớ bức bối như thúc vào lòng kẻ ở lại.

Tiễn người về sau chiến thắng và chính trên cái nền của sự chiến thắng đó, đã làm cho nỗi buồn nhớ trở nên trong sáng.

Việt Bắc vẫn “một dạ khăng khăng đợi thuyền”, đồng thời nhắc nhở khéo léo tấm “lòng son” của người cán bộ chiến sĩ. Xin đừng quên thời kỳ “kháng Nhật thuở còn Việt Minh”, đừng quên cội nguồn cách mạng, đừng quên để chăm lo giữ gìn sự nghiệp cách mạng.

“Mình đi, mình có nhớ mìnhTân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa”

-HẾT BÀI 1-

Ngoài ra, Phân tích truyện ngắn Chữ người tử tù là một bài học quan trọng trong chương trình Ngữ Văn lớp 11 mà các em cần phải đặc biệt lưu tâm.

Bài mẫu số 3: Phân tích 20 câu đầu bài thơ Việt Bắc ngắn nhất hay

Tô Hoài coi Tố Hữu xứng đáng là “Ngôi sao sáng nhất trong bầu trời thơ ca cách mạng Việt Nam thế kỷ 20”. Với Nguyễn Ðăng Mạnh thì Tố Hữu được mệnh danh là “Nhà thơ của lẽ sống cách mạng”, “Nhà thơ của Tổ quốc Việt Nam”, là “Hồn thơ dân tộc”. Người đọc có thể thấy ông là một trong những nhà thơ lớn nhất, tiêu biểu nhất của nền thi ca hiện đại. “Việt Bắc” là bài thơ lục bát đỉnh cao để đời sự nghiệp của ông. 20 câu thơ đầu tiên như những câu hát thể hiện ân tình của nhà thơ một cách sâu sắc nhất.

Thật vậy, “Việt Bắc” như một cuốn biên niên sử bằng thơ. Tháng 7/1954 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi hoà bình được lập lại, miền Bắc nước ta hoàn toàn giải phóng, một trang sử mới mở ra cho đất nước. Tháng 10/1954, cơ quan Trung ương của Đảng và Nhà nước chuyển từ căn cứ địa về thủ đô. Trong thời điểm lịch sử ấy, bài thơ “Việt Bắc” đã ra đời. “Việt Bắc” không còn là tình cảm riêng của Tố Hữu mà còn tiêu biểu cho tình cảm của người kháng chiến miền xuôi đối với chiến khu cách mạng, với đất nước, với nhân dân.

Đọc thêm:
Viết: Bài luận thuyết phục người khác từ bỏ một thói quen hay một quan niệm Ngữ văn 10 Cánh Diều

Đọan thơ mở đầu bằng những ca từ ngọt ngào mà sâu lắng:

“Mình về mình có nhớ taMười lăm năm ấy thiết tha mặn nồngMình về mình có nhớ khôngNhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?”

Câu thơ mở ra canh chia tay từ biệt bịn rịn giữa người dân Việt Bắc với cán bộ về xuôi. Đó là một thứ tình cảm keo sơn gắn bó đã “mười lăm năm”. Đây là một khoảng thời gian dài để thắt chặt tình cảm giữa hai bên thật gắn bó làm sao? Với hình thức kết cấu hỏi đáp quen thuộc vừa giản dị lại chân thành là một hình thức rất quen thuộc trong cao dao dân ca. Nhưng ở khung cảnh chia tay bịn rịn này, dường như nàh thưo chỉ mượn hình thức ca dao để nói về nỗi lòng của mình. Người dânViệt Bắc có tâm trạng xao xuyến không biết cán bộ chiến sĩ về miền xuôi có nhớ tới họ không, nhớ tới khỏang thời gian “thiết tha mặn nồng”, nhớ tới Việt Bắc với những thiên nhiên đẹp ngút ngàn. Đại từ nhân xưng “mình – ta” quen thuộc trong ca dao là ngôn từ là cách xưng hô biểu đạt hợp lý nhất tình cảm chia xa mà đã gắn bó rất lâu. Bốn câu thơ mà có tới bốn chữ mình, bốn chữ nhớ một chữ ta hòa quyện lấy nhau không tách rời như hình với bóng khiến cho đạo lý ân tình thủy chung ấy thêm son sắt đậm đà.

Phân tích 3 khổ đầu bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu

Tiếp theo là tiếng lòng của người ra đi hồi đáp lại người ở lại:

“Tiếng ai tha thiết bên cồnBâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước điÁo chàm đưa buổi phân lyCầm tay nhau biết nói gì hôm nay”

Nỗi lòng của người ở lại khiến cho người ra đi không khỏi “bâng khuâng”, “bồn chồn”. Họ như không muốn bước đi. Thật khó để diễn tả được tâm trạng của người trong cuộc lúc này. “Bâng khuâng” là tâm trạng chất chứa những nhớ thương bao trùm cả không gian với bao nhiêu kỉ niệm, không dừng lại một kỉ niệm nào. Còn “bồn chồn” cũng là từ chỉ tâm trạng nhớ thương, những đó là tâm trạng không thể kìm nén bên trong mà biểu hiện qua bên ngoài như nét mặt bồn chồn mong đợi. Ở đây cái tâm trạng ấy lại hiện ra trong bước đi của người về xuôi thành “bồn chồn bước đi”. Đòan Thị Điểm trong “Chinh phụ ngâm khúc” cũng từng nói về cái bồn chồn ấy:

” Bước đi một bước dây dây lại dừng”

Hình ảnh “chiếc áo chàm” vừa gợi hình, gợi tả. Nó là hình ảnh hoán dụ mang nhiều tầng ý nghĩa. Áo chàm vừa chỉ người Việt Bắc, cũng như ẩn ý cả Việt Bắc đang tiễn người cách mạng về miền xuôi. Câu thơ “Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay” đầy tính chất biểu cảm. “Biết nói gì hôm nay…” không phải là không có gì để nói. Không nói được vì xúc động nghẹn ngào không thốt được nên lời. Những lời không nói ấy có lẽ đã nằm hết trong ba chữ “Cầm tay nhau”. “Cầm tay” là biểu tượng của tình yêu thương đoàn kết. “Cầm tay” là đã đủ nói lên bao cảm xúc trong lòng rồi.

Tố Hữu để cho người ở lại lên tiếng. Chỉ có 12 câu nhưng đều xoáy vào những kỷ niệm của những ngày cách mạng rất gian nan nhưng sâu nặng nghĩa tình:

” Mình đi, có nhớ những ngàyMưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù?Mình về, có nhớ chiến khuMiếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai?Mình về, rừng núi nhớ aiTrám bùi để rụng, măng mai để giàMình đi, có nhớ những nhàHắt hiu lau xám, đậm đà lòng sonMình về, còn nhớ núi nonNhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt MinhMình đi, mình có nhớ mìnhTân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa”

Đó là những kỉ niệm mà mỗi người không thể nào quên được. “Miếng cơm chấm muối” là hình ảnh chân thực rút ra từ thực tế cuộc sống khó khăn nghèo nàn thiếu thốn cả về vật chất lẫn tinh thần. Tuy nhiên, sống trong hòan cảnh thiếu thốn ấy nhưng mối thù nước nhà vẫn không bao giờ dập tắt. Hai hình ảnh ấy đối xứng đặt cùng một câu thơ tạo nên một mối tình đoàn kết gắn bó để chiến thắng quân thù. Người ở lại tiếp tục kể cho người ra đi,nhắc nhở họ về những năm tháng “trám bùi để rụng”, “măng mai để già”. Với thủ pháp đối lập “hắt hiu lau xám” với “đậm đà lòng son” diễn tả sâu sắc nỗi nhớ của người ở lại. Người ở lại kể về cuộc kháng chiến thuở Việt Minh đã cùng nhau chiến đấu. Và các địa danh gắn liền với Việt Bắc là không thể thiếu được. Tố Hữu đã nhắc về những địa danh lịch sử nổi tiếng ở Việt Bắc với những sự kiện quan trọng gắn liền với nó. Cây đa Tân Trào là nơi đội việt Nam tuyên truyền giải phóng quân làm lễ xuất phát còn mái đình Hồng Thái nơi Bác Hồ chủ trì cuộc họp quyết định làm cuộc cách mạng tháng tám. Tố Hữu đã đặt hai địa danh này ở cùng một câu thơ nhấn mạnh tầm quan trọng cũng như ý nghĩa lịch sử của nó. Trong một đoạn thơ ngắn mà đã có đến 8 chữ “mình” và 7 chữ “nhớ”, trong đó có câu thơ 3 chữ “mình” luyến láy và chuyển nghĩa rất tài tình khi nhắc đến những địa danh cách mạng từ nay đã đi vào lịch sử lại càng thể hiện tình nghĩa sâu nặng của người ở lại kể với người ra đi.

Tóm lại, chỉ với 20 câu thơ đầu, Tố Hữu đã khắc họa được cuộc nói chuyện tâm tình thủ thỉ bằng hình thức đối đáp quen thuộc trong ca dao giữa người dân Việt Bắc với người cách mạng về xuôi. Với 20 câu thơ ấy, những kỉ niệm đẹp giữa họ hiện lên vừa cụ thể, chân thực lại giàu tình cảm. Giọng thơ tâm tình thủ thỉ như nhắc nhở, níu kéo, như tâm sự giãi bày. “Việt Bắc” xứng đáng là bài thơ đỉnh cao để đời sự nghiệp thơ ca của ông.

Bài mẫu số 4: Phân tích 20 câu đầu bài thơ Việt Bắc hay của học sinh giỏi

Tố Hữu là một trong những nhà thơ lớn nhất, tiêu biểu nhất của nền thi ca hiện đại. “Ngọn cờ đầu của thơ ca cách mạng, nhà thơ của lý tởng cộng sản”. Tập thơ “Việt Bắc”, là đỉnh cao của thơ Tố Hữu đồng thời cũng là thành tựu hàng đầu của thơ ca kháng chiến chống Pháp, trong đó bài thơ “Việt Bắc” đợc coi là kết tinh sở trờng nghệ thuật của ngòi bút Tố Hữu. Đó là khúc hát ân tình của ngời kháng chiến đối với quê hương, đất nước với nhân dân cách mạng được thể hiện bằng một nghệ thuật vừa cổ điển vừa hiện đại mà cốt lõi là truyền thống ân nghĩa đạo lý thủy chung của dân tộc.

Được coi là người sinh ra để thơ hoá những vấn đề chính trị, thơ Tố Hữu luôn bám sát các sự kiện cách mạng. Men theo năm tháng những bài thơ của Tố Hữu, ta có thể tái hiện lại những chặng đường hào hùng của cách mạng Việt Nam. Thơ ông quả là “cuốn biên niên sử bằng thơ” như có nhà nghiên cứu đã đánh giá. “Việt Bắc” không phải là ngoại lệ.

Tháng 7/1954 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi hoà bình được lập lại, miền Bắc nước ta hoàn toàn giải phóng, một trang sử mới mở ra cho đất nước. Tháng 10/1954, cơ quan Trung ương của Đảng và Nhà nước chuyển từ căn cứ địa về thủ đô. Trong thời điểm lịch sử ấy, bài thơ “Việt Bắc” đã ra đời. “Việt Bắc” không còn là tình cảm riêng của Tố Hữu mà còn tiêu biểu cho tình cảm của người kháng chiến miền xuôi đối với chiến khu cách mạng, với đất nước, với nhân dân. Một sự kiện chính trị đã chuyển hoá thành thơ ca theo cách “Tâm tình hoá, là một đặc trng của lối thơ trữ tình chính trị Tố Hữu. 20 câu thơ đầu tiên của “Việt Bắc” thể hiện rất rõ đặc trưng nghệ thuật này.

bai van phan tich 20 cau tho dau bai tho viet bac

Phân tích 20 câu đầu bài Việt Bắc để thấy được tình cảm gắn bó, thủy chung của cán bộ cách mạng và người chiến khu

Đoạn thơ mở đầu bằng những câu thơ ngọt ngào:

Mình về mình có nhớ taMời năm năm ấy thiết tha mặn nồng.

Câu thơ mở ra cảnh giã biệt, một hoàn cảnh đặc biệt để bộc lộ cảm xúc trữ tình dạt dào. Cảnh giã biệt vẫn quen thuộc trong thơ ca dân gian và cổ điển truyền thống đã được Tố Hữu khéo vận dụng để diễn tả tâm trạng mang tính thời đại. Cuộc chia tay lớn của cán bộ Đảng, Chính phủ với Việt Bắc được thu vào cuộc chia tay của một đôi trai gái: người ở lại rừng núi chiến khu là cô gái Việt Bắc, người về xuôi là anh cán bộ cách mạng. Chuyện chung đã hoá thành chuyện riêng, chuyện cách mạng của dân nước trở thành chuyện tình yêu của lứa đôi, cuộc chia tay đầy bịn rịn lưu luyến giữa những người đã từng gắn bó sâu nặng dài lâu:

Đọc thêm:
Lập dàn ý miêu tả một ngày mới bắt đầu ở quê em

“Mười lăm năm” “thiết tha mặn nồng” được Tố Hữu thể hiện bằng một thể thơ giàu tính dân tộc. Thể lục bát, cách kết cấu đối đáp, sử dụng đại từ nhân xưng “Mình”, “Ta” quen thuộc trong thơ ca dân gian, có khả năng “biểu hiện một cách thuận tiện, phù hợp với điệu hồn chung của cộng đồng người Việt” “Rung lên cái sợi tơ lòng chung của những tấm lòng Việt”. Tất cả những yếu tố đó đã diễn tả thật xúc động tình cảm quyến luyến thiết tha trong một cuộc chia tay đặc biệt: chưa xa đã nhớ, để chia mà không xa, cách mà

không biệt.

Mình về mình có nhớ ta” đã là chuyện chung thuỷ, riêng tư. Nhưng đến:

“Mình về mình có nhớ khôngNhìn cây nhớ núi nhìn sông nhớ nguồn”

thì không còn là chuyện của tình yêu lứa đôi mà đã là chuyện ân nghĩa thủy chung của đạo lý dân tộc. Câu thơ lục bát điệp hai lần từ “mình” nghe như lối tâm tình thương mến mà day dứt. Băn khoăn lớn nhất của ta và mình trong cuộc chia tay là ân tình thủy chung. Cái độc đáo ở chỗ: một câu hỏi về thời gian, một câu hỏi về không gian. Chỉ một khổ thơ đã gói gọn một thời cách mạng, một trời cách mạng. Tác giả đã chọn tình yêu một đôi trai gái làm một góc nhìn để bao quát toàn cảnh Việt Bắc với “Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng” Từ thuở cách mạng còn trứng nước đến khi trưởng thành vững vàng đó là điểm nhìn nghệ thuật rất Tố Hữu- người thi sĩ luôn khơi nguồn cảm hứng từ những sự kiện lớn của cách mạng.

Tiếp theo câu hỏi của ngời ở là tiếng lòng của người đi:

Tiếng ai tha thiết bên cồnBâng khuâng trong dạ bồn chồn bước điÁo chàm đưa buổi phân liCầm tay nhau biết nói gì hôm nay

Người đi đã nghe câu hỏi, lòng tràn đầy bâng khuâng “bồn chồn” một tình cảm thương nhớ “thiết tha”. Tâm trạng lúc chia tay được diễn tả thật đắt qua sự luyến láy của ngôn từ và cả ở nhạc điệu của câu thơ: Hai câu đầu là nhịp 2/2 hối hoàn của lục bát đến đây đã vặn mình chuyển điệu 3/3:

“Áo chàm đưa/ buổi phân lyCầm tay nhau/ biết nói gì / hôm nay”

Cái xao xuyến bồi hồi của lòng người đã cồn cào nổi sóng trên câu thơ thể hiện cách thần tình chút ngập ngừng chứa chan tình thương mến, tạo ra một khoảng lặng đầy biểu cảm để chuỗi câu hỏi tiếp theo vang lên dồn dập, tha thiết hơn.

Mười hai câu lục bát còn lại là lời của người ở, cấu tạo bằng sáu câu hỏi như khơi sâu vào kỷ niệm. Mỗi câu hỏi đều gợi lại những gì tiêu biểu nhất của Việt Bắc qua những hình ảnh chọn lọc gợi cảm: Mưa nguồn, suối lũ, mây mù, Những hình ảnh chọn lọc vừa chân thực vừa thơ mộng; “Hắt hiu lau xám đậm đà lòng son” Những câu thơ có khả năng diễn biến những khái niệm trừu tợng thành hình ảnh đầy cảm giác sống động cụ thể “mối thù nặng vai”. Nghệ thuật nhân hoá cũng tạo nên sự sống động cho hình ảnh thơ:

“Mình về rừng núi nhớ aiTrám bùi để rụng, măng mai để già”

Tình cảm của ngời ở đối với ngời đi xem ra đợc thể hiện sâu kín hơn cả trong câu thơ này, chỉ 14 chữ mà chứa đựng biết bao quyến luyến nhớ thương: Người đi rồi cả một miền rừng trở nên hoang vắng, trám không người nhặt, măng không ai hái, cả núi rừng cũng mong nhớ đến thẫn thờ. Như một thông lệ trong cuộc chia tay giữa những người thân thiết, người ta thường đẩy thời gian về quá khứ để chưa xa đã nhớ, chưa biệt đã thương. Để trên nền xúc cảm này, dòng hồi tởng những kỉ niệm thân thương ùa về mãnh liệt.

“Mình đi, mình có nhớ mìnhTân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa”

Nhìn thoáng qua, tổ chức các câu thơ đều lặp lại ở phép láy đầu 6 câu: Mình đi, mình về. “Đi”, “Về” vốn ngợc chiều trái hướng, song ở đây lại đồng nhất một phương .

Phải chăng niềm tin giản dị mà rất thực của cả người đi và người ở đã thổi vào câu chữ, làm nên chút choáng ngợp bối rối của ngôn từ, thể hiện mạch ngầm văn bản trong chiều sâu thơ ca: Ra đi để hẹn về. Việt Bắc đã trở thành quê hương thứ hai của ngời cán bộ kháng chiến.

Những kỷ niệm được gợi nhớ đều là những kỷ niệm của cuộc sống chung, tình cán bộ với nhân dân chia ngọt sẻ bùi, chung gian lao, chung mối thù Nếu không khéo rất dễ sa vào cái gọi là “liệt kê kỉ niệm” câu thơ sẽ trôi tuột đi, không thể lưu đọng lại trong lòng người đọc. Cái làm nên chất thơ của bài “Việt Bắc” cũng như của đoạn thơ này chính là nhạc điệu. Chính nhạc điệu đã làm cho các kỷ niệm trở nên ngân nga, trầm bổng réo rắt, thấm sâu vào tâm tư. Những yếu tố làm nên chất nhạc kỳ diệu ấy không chỉ ở những câu lục bát rất chuẩn về thanh luật mà còn ở nghệ thuật tiểu đối được sử dụng với tần số cao trong các câu thơ. Nó không chỉ có khả năng biểu đạt rất xúc động nỗi lòng sâu kín bồi hồi của người đi kẻ ở, mà còn tạo ra sự tương xứng về cấu trúc, vẻ đẹp nhịp nhàng của ngôn từ.

Mưa nguồn suối lũ / những mây cùng mùMiếng cơm / mối thùTrám / măngHắt / sonNhớ / mìnhTân / đa

Những hình ảnh thơ đã thực sự cất lên chất thơ nhờ nhạc điệu đầy quyến luyến, trầm bổng, ngân nga qua những câu thơ sóng đôi lối đối xứng tiểu đối, nó mang vẻ đẹp cổ điển uyên bác. Đặc biệt câu hỏi cuối đoạn thơ có thể tách riêng ra bởi sự thâm thúy, hàm súc:

“Mình đi mình có nhớ mìnhTân Trào Hồng Thái mái đình cây đa”

Đại từ “mình”, “ta” vốn được sử dụng trong đối đáp thơ ca dân gian nay được Tố Hữu sử dụng đầy biến ảo: Khi mình là Ta, khi “ta” là “mình”, cái ngầm ý hai ta là một đã rõ. Nhng ở đây một câu lục mà tới ba lần lặp lại chữ mình: “Mình đi, mình có” là chỉ ngời về, “nhớ mình” là chỉ người ở. Câu hỏi đầy ý nhị mà sâu kín: Mình quên “ta” cũng là quên chính “mình” đó. Cũng như ở phần sau, Tố Hữu lại nhấn theo lối bồi thấn trong câu thơ trả lời khẳng định sắt son.

“Mình đi mình lại nhớ mìnhNguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu”

Nhà thơ đã khai thác rất đắt chữ “Mình” trong tiếng Việt. “Mình” vừa là bản thân vừa là ta, “Mình” cũng là ngời thân thiết có thể xem như chính mình vậy. Đại từ nhân xưng được sử dụng vừa thống nhất vừa biến hoá khiến “Việt Bắc” cất lên như tiếng lòng đồng vọng bản hoà âm tâm hồn của kẻ ở người đi.

Sự đổi chỗ trong tổ chức câu thơ: “Mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào” được viết thành: “Tân trào Hồng Thái mái đình cây đa” chứng tỏ tên riêng và danh từ chung đều đã đồng nhất hoàn toàn về ý nghĩa -Việt Bắc quê hương cách mạng. Nỗi nhớ về chiến khu Việt Bắc “Tân Trào, Hồng Thái”, đã chuyển hoá thành nỗi nhớ quê hương “Mái đình cây đa” những hình ảnh đã đi vào tâm thức người Việt từ ngàn đời. “Trong thơ Tố Hữu, cái riêng, cái chung như không còn ranh giới, cái cũ cái mới lồng vào nhau, (Nguyễn Văn Hạnh) mà đây là một trờng hợp điển hình.

“Việt Bắc” là bài ca tâm tình, ngọt ngào đằm thắm rất tiêu biểu cho hồn thơ, cho phong cách thơ của Tố Hữu. Vẫn là tiếng nói của tình cảm tình yêu nhưng là tình yêu đối với quê hương đất nước, đối với cách mạng đối với nhân dân.

Trong câu chuyện với một nhà nghiên cứu văn học người Pháp Tố Hữu tâm sự rằng: “mình phải lòng đất nước và nhân dân của mình. Và đã nói về đất nước về nhân dân như nói về người mình yêu”. Cho nên tình yêu biến thành tình nghĩa “Việt Bắc” đã trở thành tiếng hát ân tình chung của những người kháng chiến, của cả dân tộc trong một thời điểm lịch sử đáng ghi nhớ.

Có thể khẳng định rằng đoạn thơ trên là những câu thơ hay nhất của bài thơ “Việt Bắc”.

-HẾT-

https://thuthuat.taimienphi.vn/phan-tich-20-cau-dau-bai-tho-viet-bac-39786n.aspx Khi học và tìm hiểu về bài thơ Việt Bắc, bên cạnh bài Phân tích 20 câu đầu bài thơ Việt Bắc trên đây, các em có thể củng cố kiến thức tác phẩm cho mình qua việc tham khảo Những bài văn hay lớp 12 cùng chủ đề khác như: Cảnh thiên nhiên và con người trong bài thơ Việt Bắc, Cảm nhận về bức tranh tứ bình trong bài thơ Việt Bắc, phân tích bức tranh tứ bình, Tố Hữu, Tính dân tộc qua bài Việt Bắc, Tố Hữu

5/5 - (8621 bình chọn)

Chuyên Gia Thu Nhi

Chuyên Gia Thu Nhi PGS (2006), TS (2001, Trường ĐHKHXH và NV TP.HCM), Trưởng Bộ môn, kiêm Trưởng khoa Khoa Việt Nam học. Lĩnh vực nghiên cứu: Văn học cổ cận đại VN, Văn học Nhật Bản, Văn học so sánh VN - Đông Á, Lý luận văn học cổ điển VN-TQ...

Bài viết liên quan

Back to top button